Gia sư Hà Nội » Gia sư tiếng anh

Cẩm Nang Thi Đại Học Môn Tiếng Anh

Gia sư hà nội, xin chia sẻ đến các em cách làm bài thi trắc nghiệm môn tiếng Anh. Hy vọng bài viết sẽ giúp các em hoàn thành tốt kỳ thi đại học sắp tới.

A. Tìm hiểu nội dung và cấu trúc đề thi đại học dạng thức trắc nghiệm

Câu trắc nghiệm bao gồm 2 loại, hỏi về lý thuyết và đòi hỏi tính toán. Chỉ có điều bài tập trong câu trắc nghiệm không đòi hỏi thí sinh phải mất nhiều thời gian tính toán, thường là bài toán cơ bản, hoặc một khâu trong quá trình giải một bài toán lớn hơn.

Đối với mỗi câu hỏi, TS sẽ có khoảng từ 1 đến 2 phút để tìm ra đáp án trả lời. Tuy nhiên, sẽ có những câu thuộc vào phần kiến thức cơ bản, thuần lý thuyết trong sách giáo khoa, TS không cần đến 1 phút mà có thể trả lời ngay sau khi đọc đề. Bên cạnh đó, cũng có những câu cần phải phân tích, tổng hợp, suy luận mới hoặc những bài toán cần có sự tính toán.

TS cần đặc biệt lưu ý những câu hỏi “bẫy”, đưa ra nhiều đáp án gần giống với đáp án đúng. Cần hết sức thận trọng và đọc kỹ, hiểu kỹ câu hỏi và các phương án trả lời để lựa chọn chính xác nhất.

Với đề thi tuyển sinh, sẽ có khoảng 10 câu dành cho học sinh giỏi dùng để phân loại TS.

Cả đề thi tốt nghiệp và tuyển sinh đều có phần kiến thức của cả 3 năm THPT, trong đó trọng tâm là chương trình lớp 12. Theo một số nhà giáo giàu kinh nghiệm thì số lượng câu hỏi thuộc về phần kiến thức lớp 12, 11, 10 thường theo tỉ lệ khoảng 5-3-2. Vì thế, TS cần phải nắm thật chắc toàn bộ chương trình lớp 12, đồng thời không quên ôn lại kiến thức của hai năm trước đó.

B. Ôn tập trước kì thi

Học sinh cần luyện tập, làm bài mẫu giống như thi thật, thời gian thật để tránh bỡ ngỡ, tạo tâm lý tự tin khi thi thực sự.

Trong bài đọc, bạn cần tập trung đến các vấn đề giáo dục, môi trường, sức khoẻ, nhân vật lỗi lạc, nghề nghiệp, việc làm và các hoạt động văn hoá thể thao.

Học lý thuyết, ngữ pháp phải luôn đi kèm với làm bài tập thì mới đạt được kết quả tốt nhất.

Chú ý học thuộc các mẫu câu và vận dụng chúng với những từ khác nhau. Khi học từ mới, phải kiểm tra cách phát âm một cách chính xác.

Khi học một từ thì cần phải biết cả các dạng thức khác của từ đó theo phạm trù từ loại và các tình huống ngữ pháp khác nhau.

Chú ý:

1. Đề thi gồm nhiều câu, rải khắp chương trình, không có trọng tâm cho mỗi môn thi, do đó cần phải học toàn bộ nội dung môn học, tránh đoán “tủ”, học “tủ”.

2. Gần sát ngày thi, nên rà soát lại chương trình môn học đã ôn tập; xem kỹ hơn đối với những nội dung khó; nhớ lại những chi tiết cốt lõi. Không nên làm thêm những câu trắc nghiệm mới vì dễ hoang mang nếu gặp những câu trắc nghiệm quá khó.

3. Đừng bao giờ nghĩ đến việc mang “tài liệu trợ giúp” vào phòng thi hoặc trông chờ sự giúp đỡ của thí sinh khác trong phòng thi vì các thí sinh có đề thi hoàn toàn khác nhau.

4. Trước giờ thi, nên “ôn” lại toàn bộ quy trình thi trắc nghiệm để hành động chính xác và nhanh nhất, vì có thể nói, thi trắc nghiệm là cuộc chạy “marathon”.

C. Những kiến thức và kỹ năng cần thiết để đạt được kết quả tốt nhất

Căn cứ yêu cầu về nội dung, cấu trúc của các đề thi có thể khẳng định để làm bài tốt, thí sinh phải có đủ kiến thức về ngữ âm và âm vị học, từ vựng, ngữ pháp (cú pháp) và kỹ năng đọc hiểu.

1. Thế nào là có đủ kiến thức về ngữ âm và âm vị học tiếng Anh?

Có đủ kiến thức về ngữ âm và âm vị học tiếng Anh bao gồm việc phát âm đúng các âm riêng lẻ, trong từ, cụm từ và câu; hiểu được rằng hệ thống âm vị học tiếng Anh bao gồm các nguyên âm đơn, nguyên âm kép, phụ âm đơn, phụ âm, tổ hợp phụ âm, các chữ viết thể hiện các âm vị đó; và quan trọng hơn phải phát âm đúng được những âm đó khi chúng đứng riêng lẻ, trong tổ hợp, trong từ, trong câu, và phải biết đánh trọng âm của các từ đa âm tiết.

2. Thế nào là đủ kiến thức về từ vựng?

Có đủ kiến thức về từ vựng có nghĩa là các em phải nhớ được một lượng từ vựng cần thiết, cả hình thức âm thanh, hình thức chữ viết và nghĩa cơ bản (thường là nghĩa 1 trong từ điển) đủ để hiểu bài và làm bài; phải có kiến thức cơ bản về hệ thống từ vựng tiếng Anh bao gồm các loại như danh từ, động từ, tính từ, trạng từ, giới từ, mạo từ, đại từ, liên từ, thán từ, phải hiểu được những đặc điểm cơ bản của từng loại từ này.

2.1. Danh từ tiếng Anh

Danh từ tiếng Anh có số ít và số nhiều (ví dụ: book – books), đếm được (ví dụ: book) và không đếm được (ví dụ: water). Danh từ tiếng Anh có cấu tạo số nhiều từ số ít theo qui tắc (ví dụ: table – tables, pen – pens), nhưng cũng có cấu tạo số nhiều từ số ít không theo qui tắc (ví dụ: child – children, man – men), có hình thức số ít nhưng lại sử dụng như số nhiều (ví dụ: people, police), hoặc hình thức số nhiều nhưng sử dụng như số ít (ví dụ: physics, mumps). Ngoài ra còn có sở hữu cách của danh từ (ví dụ: our teachers books, Alices car), và danh từ ghép (ví dụ: swimming pool, river bank)

2.2. Động từ tiếng Anh

Động từ tiếng Anh có năm hình thức: hình thức nguyên thể – hình thức được cho là nguyên mẫu của động từ (ví dụ: go, come, play), hình thức nguyên thể với to (ví dụ: to go, to play), hình thức quá khứ (ví dụ: walked, played) thể hiện ý nghĩa quá khứ, hình thức phân từ 2 (ví dụ: given, written) thể hiện ý nghĩa hoàn thành, và hình thức với -ing thể hiện ý nghĩa đang diễn ra.

Động từ tiếng Anh thể hiện thời gian qua việc sử dụng các thì (tenses) bao gồm hiện tại, quá khứ và tương lai. Với hiện tại, động từ tiếng Anh có bốn thì: (1) thì hiện tại đơn chỉ hành động thường xuyên xảy ra trong hiện tại (ví dụ: I go to school everyday; She speaks English very well); (2) thì hiện tại tiếp diễn chỉ hành động xảy ra ở thời điểm nói trong hiện tại (ví dụ: We are learning English; She is singing in the next room); (3) thì hiện tại hoàn thành chỉ một hành động xảy ra trong quá khứ và còn kết quả liên quan đến hiện tại (ví dụ: Ive read this book; They have finished their homework); và (4) thì hiện tại hoàn thành tiếp diễn chỉ một hành động bắt đầu từ một thời điểm nào đó trong quá khứ và đến hiện tại nó vẫn đang diễn ra (ví dụ: Weve been learning English for 6 years; Hoa has been reading the book for two hours).

Với quá khứ, động từ tiếng Anh có bốn thì: (1) thì quá khứ đơn chỉ hành động đã xảy ra trong quá khứ (ví dụ: I often went to school early when I was young); (2) thì quá khứ tiếp diễn chỉ hành động đang diễn ra tại một thời điểm xác định trong quá khứ (ví dụ: I was reading a book when she came); (3) thì quá khứ hoàn thành chỉ hành động đã hoàn thành trước một thời điểm xác định trong quá khứ (ví dụ: I had learnt English for three year before I turned to learn Japanese); và (4) thì quá khứ hoàn thành tiếp diễn chỉ hành động bắt đầu trước một thời điểm xác định trong quá khứ kéo dài đến thời điểm quá khứ ấy (ví dụ: I had been reading this book for three hours when she came).

Với tương lai, động từ tiếng Anh không biến hình để diễn đạt ý nghĩa này; thay vào đó nó sử dụng hai trợ động từ shall và will. Thông thường shall đi với đại từ nhân xưng ở hai ngôi I và we, will đi với các đại từ nhân xưng ở các ngôi còn lại you, she, he, it và they (tuy nhiên xu hướng hiện nay là sử dụng will cho tất cả các ngôi).

Theo đó, ta có (1) thì tương lai đơn chỉ hành động thường xảy ra trong tương lai (ví dụ: I shall go to school early); (2) thì tương lai tiếp diễn chỉ hành động xảy ra tại một thời điểm tiếp diễn trong tương lai (ví dụ: at this time tomorrow, I shall be learning English); (3) thì tương lai hoàn thành thể hiện hành động sẽ hoàn thành trước một thời điểm xác định trong tương lai (ví dụ: They will have finished their work by this time tomorrow); và (4) thì tương lai hoàn thành tiếp diễn thể hiện hành động bắt đầu trước một thời điểm xác định trong tương lai, kéo dài đến thời điểm tương lai ấy và có thể vẫn tiếp diễn (ví dụ: We shall have been learning English for two hours when you come). Ngoài ra để diễn tả tương lai gần có kế hoạch (near future plan) ta còn sử dụng cấu trúc be going to + V (ví dụ: We are going to visit our grandparents next weekend).

D. Các “chiến lược” làm bài đạt điểm cao

1. Mẹo làm bài “Hoàn chỉnh câu” (Sentence completion)

Đề thi đưa ra một câu chưa hoàn chỉnh, trong đó, một hay một vài phần được bỏ trống. Theo sau là đáp án, thường liệt kê 4 từ hay cụm từ hoặc mệnh đề. Thí sinh sẽ chọn trong số những đáp án đưa ra, đáp án nào là chính xác để hoàn tất câu hợp với cú pháp và hợp lý nhất.

Ví dụ: Hãy chọn từ hoặc cụm từ (A, B, C hoặc D) thích hợp nhất cho khoảng trống của câu (Choose the word or phrase (A, B, C, or D) that best fits the blank space in the sentence):
Last week, when John arrived at the airport, the plane __________.
A. took off.
B. had taken off.
C. will take off.
D. takes off.

Đáp án đúng là B. Ta dùng thì past perfect (quá khứ hoàn thành) ở đây để chỉ một hành động xảy ra trước một hành động khác ở trong quá khứ. Tuần trước, khi John đến phi trường thì phi cơ đã cất cánh (hành động xảy ra trước: phi cơ cất cánh – ở thì quá khứ hoàn thành; hành động sau: John đến phi trường – ở thì quá khứ đơn).

Để trả lời câu hỏi loại này, ta cần chú ý:

Thường thì trong bài thi trắc nghiệm ngữ pháp, bạn sẽ không thể trả lời ngay bằng cách chỉ áp dụng một quy tắc ngữ pháp nhất định nào đó mà phải kết hợp hai hay nhiều quy tắc khác nhau để loại trừ phương án sai. Áp dụng lần lượt các bước sau:

Bước 1: Kiểm tra các lỗi ngữ pháp cơ bản bao gồm:
- Sự hoà hợp giữa chủ ngữ và vị ngữ
- Cách sử dụng Adj và Adv.
- Vị trí và thứ tự của các Adv.
- Sự phù hợp giữa các thời động từ.
- Đại từ có danh từ duy nhất để nó đại diện hay không.
- Cấu trúc câu song song.
- Câu phức và câu ghép:
+ Khi câu là câu phức hoặc ghép thì chủ ngữ có thể không xuất hiện ở mệnh đề phụ (ví dụ: when (0) walking in the rain, I saw a big frog); hoặc có thể xuất hiện ở cả hai mệnh đề (ví dụ: when I was walking in the rain, I saw a big frog).
+ Câu phức có thể là câu có mệnh đề phụ chỉ thời gian, chỉ nguyên nhân, kết quả, chỉ mục đích…, nó cũng có thể là câu có mệnh đề chỉ điều kiện và một khi chỉ điều kiện thì nó chỉ có thể là câu điều kiện loại 1, câu điều kiện loại 2 hoặc câu điều kiện loại 3, nhưng cũng có thể là sự kết hợp loại 2 và 3 (mixed type).

Chú ý:
+ Nếu các đáp án khá ngắn, ta nên liếc nhanh toàn bộ để có khái niệm về những thiếu sót của câu. Cái “liếc” này thường có thể giúp ta phân nhóm câu hỏi thuộc loại parallel structure, verb forms, word order…
+ Nếu các đáp án dài và phức tạp, ta hãy bắt đầu bằng việc đọc cả câu. Không nên phân tích từng từ một nhưng khi đọc hãy cố hình thành diện mạo cấu trúc cả câu: Có bao nhiêu mệnh đề trong câu? Mỗi mệnh đề đã có đủ chủ ngữ và động từ hay chưa? Đã có liên từ kết nối các mệnh đề với nhau? Còn phần nào thiếu sót?…

Bước 2: Loại bỏ những câu trả lời rườm rà, câu càng ngắn gọn và dễ hiểu càng tốt:
- Tránh các đáp án dài dòng như:
John read the letter in a thoughtful manner. (có thể được thay thế bằng “thoughtfully”)
- Tránh các đáp án có 2 từ nghĩa giống nhau.

Bước 3: Loại bỏ những đáp án có từ vựng không rõ nghĩa:
- Phải chắc chắn rằng tất cả các từ đều có nghĩa trong câu.
- Phải đảm bảo những động từ có 2 từ phải được nối với nhau bằng một giới từ phù hợp (xem phần sau).

Bước 4: Tránh dùng các từ lóng, tiếng lóng. Từ lóng chỉ dùng trong văn nói, không dùng trong văn viết.
Ví dụ:
- really khi dùng với nghĩa very
- bunch khi dùng với nghĩa many
- any noun + wise khi dùng với nghĩa in relation to …

Ví dụ:

1. Before we can decide on the future uses of this drug, ________.
(A) many more informations must be reviewed.
(B) is necessary to review more information.
(C) we must review much more information.
(D) another information must to be reviewed.

Phân tích:
(A) Có 2 chỗ sai: không dùng many với information là danh từ không đếm được và không được viết là informations.
(B) Có 1 chỗ sai vì thiếu chủ ngữ.
(C) Đúng
(D) Có 2 chỗ sai: không dùng “another” với danh từ không đếm được và sau trợ động từ must là động từ nguyên thể không có “to”.

2. In this country, a growing concern about the possible hazardous effects ofchemical wastes ________.
(A) have resulted in a bunch of new laws.
(B) has resulted in several new laws.
(C) is causing the results of numerous new laws.
(D) result in news laws.

Phân tích:
(A) Có 2 chỗ sai: không dùng động từ ở số nhiều “have” với chủ ngữ số ít “a growing concern” và không được dùng từ lóng (slang) “bunch of”.
(B) Đúng.
(C) Rườm rà. “Causing the result of” là quá dài dòng.
(D) Có 2 chỗ sai: không dùng “result” (động từ số nhiều) với chủ ngữ là danh từ số ít và không được dùng dạng thức số nhiều của tính từ (viết đúng phải là “new laws”).

Chú ý:
Nếu chưa tìm được đáp án ngay, cố gắng giải đáp bằng phương pháp loại trừ, tức loại dần những đáp án không hợp lý. Đó là các đáp án:
+ Còn thiếu những từ hoặc cụm từ thiết yếu khiến cho câu chưa hoàn chỉnh.
+ Bao gồm những từ hay cụm từ không cần thiết.
+ Một phần của đáp án sai ngữ pháp khi điền vào toàn câu.

2. Mẹo làm bài “Nhận diện lỗi sai” (Error identification)

Câu hỏi thường đưa ra 4 từ hay cụm từ được gạch dưới (underline). Thí sinh sẽ nhận diện trong số những đáp án đưa ra, đáp án nào là sai, cần phải viết lại để câu được hoàn chỉnh.

Ví dụ: Hãy chọn từ hoặc cụm từ được gạch dưới, cần phải điều chỉnh lại cho đúng (Choose the underlined word or phrase (A, B, C, or D) that needs correcting):
In North American cultural (A), men do not kiss (B) men when meeting (C) each other. They shake hands (D).

Với câu này, ta chọn đáp án A vì “cutural” là tính từ, trong khi ở vị trí này phải là danh từ “culture”.

Để trả lời câu hỏi loại này, ta cần lưu ý:

- Đừng bao giờ chỉ tập trung đọc những từ hay cụm từ được gạch dưới, bởi vì những từ hay cụm từ đó thường chỉ sai hoặc không hợp lý khi đặt vào ngữ cảnh của toàn câu.

- Không trả lời câu hỏi cho đến khi đã đọc toàn bộ cả câu.
Với câu hỏi tương đối dễ, thí sinh có thể trả lời ngay để tiếp tục qua câu khác. Nếu chưa tìm được điểm sai sót ngay, hãy đọc lại toàn câu và lần này, hãy chú ý đến những từ, cụm từ được gạch dưới. Thông thường, trong cách đọc hằng ngày, chúng ta có thói quen liếc nhanh qua các “tiểu từ” như mạo từ, giới từ vì những từ này không chứa thông tin. Tuy nhiên, trong bài thi trắc nghiệm, đây là những phần có thể chứa sai sót nên ta cần lưu ý.

3. Mẹo làm bài kiểm tra ngữ âm (Pronunciation)

Phần thi này chỉ có 5 câu nhưng lại chiếm tỷ lệ xấp xỉ 10% tổng điểm bài thi. Khi làm phần này, nếu TS không đọc bật hơi (phát thành tiếng) các từ vựng thì khó xác định được dấu trọng âm, hoặc tìm ra cách đọc khác nhau giữa các từ cho sẵn.

4. Mẹo làm bài “Chọn phương án sát nghĩa với câu cho sẵn” (Closest meaning sentence)

Phần thi này đòi hỏi kỹ năng viết câu đúng của TS, thường chiếm tỷ lệ từ 8-15% tổng điểm. Muốn làm tốt, TS cần lưu ý: phần lớn các câu cho sẵn được mặc định ở các dạng câu giao tiếp, hội thoại nên khi chuyển ý (sang dạng bị động/chủ động; câu trực tiếp/gián tiếp) thường sử dụng văn viết, do đó về cơ bản thì cấu trúc câu, chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ… cũng thay đổi theo. Câu hỏi có sử dụng các câu trần thuật, mệnh lệnh thức, câu cầu khiến hoặc câu cảm thán khiến cho ý nghĩa của câu bị thay đổi, các động từ thường được sử dụng để thay thế như: ordered, forced, demanded, requested, suggested, warned, advised… TS cần dùng tư duy và suy luận logic để hiểu rõ định dạng câu, phân tích các mệnh đề chính, qua đó tìm ra ý nghĩa của câu, so sánh với các đáp án tương đồng phù hợp.

5. Mẹo làm bài “Đọc hiểu” (Reading comprehension)

Đề thi Tiếng Anh thường có từ 1 đến 2 bài đọc, chiếm tỷ lệ điểm từ 20-30% trên tổng điểm. Nhiều TS mất điểm oan khi làm bài đọc do một số lỗi sau: cố tìm hiểu chi tiết nội dung của bài viết thay vì cần hiểu ý chính, thông tin câu hỏi có sẵn trong bài hoặc những đáp án lựa chọn cho sẵn. Dành quá nhiều thời gian cho tìm hiểu, phán đoán ý nghĩa của từ vựng thay vì hiểu ý chính của câu và của đoạn để tìm ra ngay đáp án phù hợp. Làm theo thứ tự câu hỏi thay vì lựa chọn câu hỏi và đáp án phù hợp với nội dung để hoàn thành. Chỉ đọc lướt ý của câu hỏi mà không chú trọng vào nghĩa phủ định của các từ, dẫn đến việc hiểu nhầm nội dung câu hỏi. Những dạng câu hỏi này hay xuất hiện phần phủ định ở cuối câu dùng với liên từ như: but, except, excluding… hoặc cụm từ: not true, not correct, not mentioned, do(es) not refer…

5.1. Đọc trước câu hỏi để định hướng nội dung cần tìm trong bài đọc hiểu

Thí sinh nên tập trung đọc những thông tin cần cho câu trả lời chứ không nên đọc cả đoạn văn mà không có định hướng gì.

Thông thường, thí sinh bắt đầu đọc đoạn văn trước, rồi đọc câu hỏi thứ nhất và trở lại bài đọc để tìm câu trả lời. Như vậy là để trả lời mỗi câu hỏi, thí sinh phải đọc đoạn văn đến 2 lần. Cách tốt nhất là thí sinh đọc câu hỏi trước để biết rằng mình cần phải tìm thông tin gì trong khi đọc cả đoạn văn.

Câu hỏi đầu tiên trong đoạn văn thường là câu hỏi về chủ đề, ý chính hoặc tiêu đề phù hợp cho đoạn văn “Which of the following is the main idea/point/purpose/topic/best title of/for the passage?”

Nếu thấy câu hỏi loại này xuất hiện đầu tiên trong bài đọc hiểu, bạn đừng trả lời ngay, mà nên trả lời các câu hỏi tiếp theo trước. Sau khi đã trả lời hết các câu hỏi khác, bạn sẽ biết nội dung chính của bài đọc là gì và có thể trả lời câu hỏi này tốt hơn.

5.2. Trả lời những câu hỏi có từ “định hướng”

Những câu hỏi có từ “định hướng” sẽ cho thí sinh biết câu hỏi là về vấn đề gì, và định hướng cho thí sinh phải tìm thông tin gì trong bài đọc.

Nếu gặp câu hỏi như sau: “According to the passage, Tom was…”, thì cần phải tìm trong đoạn văn nội dung nói về Tom. Như vậy, “Tom” chính là từ định hướng trong câu hỏi này. Từ định hướng thường là những danh từ hoặc cụm danh từ, là những từ in hoa, con số và từ viết tắt.

Thí sinh nên làm theo những bước sau để trả lời dạng câu hỏi này:

Bước 1: Đọc câu hỏi và tìm ra từ “định hướng”

Bước 2: Tìm từ “định hướng” trong đoạn văn

Bước 3: Khi đã tìm ra từ “định hướng”, đọc câu phía trước từ đó và chính câu chứa từ “định hướng”.

Bước 4: Nếu đã tìm ra thông tin, trở lại phần câu hỏi và câu trả lời để tìm câu trả lời gần nhất với thông tin trong đoạn văn.

Bước 5: Nếu không tìm thấy thông tin cần cho câu trả lời, từ “định hướng” có thể xuất hiện trở lại trong phần sau của đoạn văn. Lặp lại bước 2 đến bước 4 mà thí sinh gặp từ “định hướng”.

Nếu từ định hướng xuất hiện 5 đến 6 lần trong đoạn văn thì có thể phải đọc cả đoạn. Thí sinh không nên làm điều đó mà hãy quay thật nhanh trở lại câu hỏi và chọn một từ “định hướng” khác.

Nếu vẫn chưa tìm được câu trả lời thì có thể câu hỏi này thuộc diện khó. Thí sinh có thể áp dụng phương pháp phỏng đoán và tiếp tục làm câu hỏi tiếp theo. Cần lưu ý rằng, thí sinh không nên dành quá 1 phút cho mỗi câu hỏi.

Thí sinh cũng nên ghi nhớ nội dung mình đã đọc để có thể trả lời câu hỏi về nội dung chính của đoạn văn.

E. Bí kíp khi làm bài thi trắc nghiệm Tiếng Anh

1. Phân bổ thời gian

Theo thông báo của Bộ GD-ĐT, bài thi trắc nghiệm môn ngoại ngữ bài thi tuyển sinh ĐH, CĐ có 70 – 100 câu. Thời gian làm bài là 90 phút. Như vậy, thí sinh có khoảng chưa đầy một phút để trả lời một câu hỏi. Xem qua số lượng câu hỏi và tổng thời gian để phân bố cho hợp lý. Tránh trường hợp dừng quá lâu ở một câu hỏi. Thông thường, ở những bài thi trắc nghiệm tiếng Anh, thời gian cho mỗi câu hỏi chỉ là 1 phút. Nếu bạn mất thời gian lâu hơn thì nên chuyển hướng qua câu khác đi nhé!

2. Phân loại câu hỏi

Chia đề làm 3 nhóm, làm bài thành 3 vòng

Khi làm bài thi, TS nên chia câu hỏi thành 3 nhóm. Nhóm 1 là câu hỏi mà TS có thể trả lời được ngay. Nhóm 2 là những câu hỏi cần phải tính toán và suy luận. Nhóm 3: là những câu hỏi còn phân vân hoặc vượt quá khả năng của mình thì TS cần đọc kỹ dành thêm thời gian

Ngay khi nhận đề thi, TS nên lướt quan toàn bộ đề thật nhanh trong vòng vài phút và lựa chọn những câu cảm thấy dễ nhất và chắc chắn nhất để làm trước, đồng thời đánh dấu những câu chưa làm được trong đề thi. Sau đó quay lại một lượt nữa để giải quyết những câu đã bỏ qua. Lưu ý là trong số những câu của vòng 2, TS vẫn nên chọn các câu dễ hơn để làm trước, những câu quá khó vẫn tiếp tục gác lại để vòng ba.

Vì thi trắc nghiệm là một cuộc đua về thời gian nên TS không nên dừng lại quá lâu ở bất cứ câu hỏi nào. Với những câu không biết chắc đáp án chính xác, nên dùng phương pháp loại trừ để loại bỏ được càng nhiều phương án sai càng tốt. Khi gút lại được 2 phương án, cơ hội sẽ là 50/50. Nếu khi ấy vẫn chưa có đáp án thì TS buộc phải lựa chọn theo cảm tính.

Phương châm làm bài “Thà tô nhầm còn hơn bỏ sót”: Khi không thể trả lời được câu nào, cộng với thời gian còn rất ít thì đừng nên do dự. Do không bị trừ điểm nếu thí sinh chọn câu sai, nên trước khi hết giờ thi, các bạn cần chọn nhanh đáp án hợp lý nhất cho những câu chưa trả lời. Không nên để trống một câu nào, phải trả lời tất cả các câu. Mỗi câu đều có điểm, cho nên bỏ câu nào là mất điểm câu đó. Để có cơ hội giành điểm cao nhất, các bạn phải tô các phương án trả lời theo phương châm thà tô nhầm còn hơn bỏ sót.

3. Phương pháp phỏng đoán và loại trừ

Có người nghĩ rằng đoán không phải là một cách hay. Tuy nhiên, nếu không chắc chắn về câu trả lời thì việc phỏng đoán một cách lôgic và khoa học là giải pháp cho thí sinh.

Thí sinh chẳng mất gì nếu đoán câu trả lời. Với câu trả lời sai, thí sinh sẽ không “ăn” điểm nhưng cũng không bị trừ điểm.

Trong trường hợp thí sinh có thời gian để suy nghĩ, nhưng không chắc chắn về câu trả lời thì có thể dùng phương pháp loại trừ. Trong 4 phương án trả lời, thí sinh có thể phân tích và tìm ra câu trả lời sai. Như vậy, câu trả lời đúng sẽ nằm trong số còn lại. Nếu loại trừ được càng nhiều phương án sai thì xác suất chọn được câu trả lời đúng càng cao. Chẳng hạn đề yêu cầu tìm câu trả lời đúng thì bạn có thể dựa vào các câu trả lời A, B, C, D để chọn. Bạn thấy A không đúng, B cũng không đúng, D thì không chắc, C thì có khả năng là đúng nên có lẽ câu trả lời là C. Yếu tố này đôi khi cần sự may mắn nhưng lại không thể thiếu khi làm bài thi trắc nghiệm.

Trong trường hợp không có thời gian để đọc kỹ câu hỏi thì thí sinh cũng không nên bỏ trống câu trả lời. Chẳng hạn, nếu còn 10 câu hỏi mà chỉ còn 1 phút để trả lời, cách tốt nhất là chọn bất cứ một chữ cái nào đó. Chẳng hạn là B, và điền câu trả lời B vào tất cả các câu hỏi còn lại. Như vậy, xác suất đúng sẽ cao hơn, trong điều kiện thời gian còn quá ít.

Vậy là, thí sinh nên phỏng đoán khi làm bài thi vì đây không phải là gian dối. Đó đơn giản là một cách thông minh khi làm bài thi. Những thí sinh khác cũng làm như thế, vì vậy, tại sao lại giới hạn cơ hội của chính mình?

4. “Kĩ xảo” bút chì và tẩy

Vào phòng thi, khi nhận được phiếu trả lời trắc nghiệm (TLTN), TS phải điền ngay vào các mục từ 1 đến 9 (bao gồm thông tin các nhân và thông tin về phòng thi, hội đồng coi thi, môn thi, ngày thi). Sau khi nhận đề, TS phải điền vào mục số 10 là mã đề thi. Tất cả thông tin này đều phải điền bằng bút bi hoặc bút mực, không được sử dụng màu đỏ. Nếu điền thiếu bất cứ thông tin nào, bài làm đều phạm quy.

Đồng thời chú ý xem lướt qua đề thi và phiếu trả lời xem có đầy đủ câu hỏi không, các câu hỏi có được in rõ ràng không. TS không làm bài trực tiếp vào đề thi mà phải trả lời trên phiếu TLTN.

Phải đánh dấu câu trả lời theo đúng hướng dẫn và đúng với số thứ tự của câu trên bản trả lời: Dùng bút chì đen tô kín ô tròn tương ứng với chữ cái đã chọn trên phiếu trả lời. Cần lưu ý là phải tô đậm và lấp kín diện tích cả ô (không dùng gạch chéo hay đánh dấu). Nên nhớ là không tô 2 ô cho cùng một câu vì đề thi chỉ cho một phương án đúng cho một câu. Trong trường hợp tô nhầm ô hay muốn đổi phương án trả lời, thì phải tẩy thật sạch ô cũ và tô kín ô mới được chọn.

Thí sinh nên mang 2 – 3 bút chì đã gọt sẵn để nếu bút này gãy thì có thể dùng ngay bút khác thay thế. Để tiết kiệm thời gian, các bạn nên tập tô thử các ô trước ở nhà. Thông thường, các thí sinh hay gọt sẵn những cây viết chì loại 2B (theo quy định) nhọn hoắt, nên khi tô vào ô mất nhiều thời gian. Nếu ta tô trước cho đầu nhọn bút chì hơi tà đi thì khi tô trọn ô rất nhanh. Các bạn có thể tiết kiệm được vài ba giây hoặc thậm chí 5 – 7 giây cho một câu, và như thế, cứ 10 câu ta có thể có thêm thời gian làm được 1 hay 2 câu nữa. Nên nhớ khi đi thi, thời gian là tối quan trọng.

Khi tô các ô tròn, TS phải chú ý tô đậm kín cả ô, tô thừa ra ngoài một chút không sao nhưng tuyệt đối không tô thiếu. Trong trường hợp tô nhầm hoặc muốn trả lời lại, TS dùng tẩy, tẩy thật sạch ô cũ và tô kín ô mới. Nếu không tẩy sạch, máy chấm sẽ coi như có 2 ô đen và câu trả lời đó không được chấm điểm.

Chú ý không tô quá mờ, máy sẽ không nhận ra hoặc quá đậm làm mất thời gian.

Việc dùng cục tẩy cũng cần lưu ý. Thí sinh nên dùng cục tẩy rời mà không sử dụng cục tẩy của cây viết chì vì động tác quay cây viết để tẩy cũng làm mất thì giờ. Tốt nhất là một tay cầm viết, một tay cầm cục tẩy. Nếu tay phải viết thì tay trái cầm cục tẩy (và ngược lại) để thấy sai là tẩy ngay, tiết kiệm được nhiều thời gian.

TS nên để phiếu TLTN bên phía tay cầm bút, bên kia là đề thi. Tay trái giữ ở vị trí câu trắc nghiệm đang làm, tay phải dò tìm số câu trả lời tương ứng trên phiếu TLTN và tô vào ô trả lời được lựa chọn. Tuy phải tận dụng thời gian nhưng cũng cần rất cẩn thận, tránh tô nhầm sang dòng của câu khác bởi vì chỉ cần một câu nhầm dòng có thể dẫn đến sai dây chuyền toàn bộ các câu sau đó.

You can leave a response.